Người ta thường nghĩ đau lưng do nghề nghiệp đến từ một lần nâng sai. Thực tế phần lớn tổn thương đến từ hàng chục nghìn lần lặp lại một động tác rất bình thường.
Bốn yếu tố chính
- Lực tác động.
- Số lần lặp lại.
- Tư thế.
- Thời gian không có phục hồi.
- Bốn yếu tố cộng hưởng với nhau.
Mục thứ tư là yếu tố quyết định nhất và cũng là yếu tố dễ thay đổi nhất.
Về sự lặp lại
- Một động tác nhẹ lặp hàng nghìn lần mỗi ngày.
- Từng lần không gây hại.
- Cộng dồn thì khác hẳn.
- Mô không kịp phục hồi giữa các lần.
- Tổn thương nhỏ tích lại.
Mục thứ hai là lý do người làm không nhận ra nguy cơ cho tới khi đã muộn.
Về tư thế
- Tư thế xa vị trí trung tính gây tải cao hơn.
- Cúi, vặn, với xa, ngửa cổ.
- Cùng một lực nhưng tải lên khớp khác nhau.
- Tư thế xấu nhân lên tác hại của lặp lại.
- Điều chỉnh tư thế thường hiệu quả nhất.
Mục thứ ba là nguyên tắc cơ học quan trọng vì nó giải thích vì sao với xa lại nặng hơn nhiều so với ôm sát.
Về tư thế tĩnh
- Giữ một tư thế lâu cũng gây hại.
- Cơ phải co liên tục.
- Mạch máu bị ép.
- Nuôi dưỡng kém đi.
- Trông như nghỉ nhưng không phải nghỉ.
- Đứng yên lâu cũng nằm trong nhóm này.
Mục thứ năm là điều đáng chú ý vì người ngồi cả ngày cũng thuộc nhóm nguy cơ.
Vì sao thiếu phục hồi là yếu tố quyết định
- Mô có khả năng tự sửa chữa.
- Nhưng cần thời gian.
- Làm liên tục thì không có thời gian đó.
- Tổn thương mới chồng lên tổn thương cũ.
- Cùng khối lượng nhưng có nghỉ thì khác hẳn.
Mục cuối là lý do việc chia nhỏ và xen kẽ hiệu quả hơn nhiều so với cố làm một mạch.
Rung động
- Dụng cụ cầm tay rung.
- Ngồi trên máy rung.
- Ảnh hưởng tới mạch máu và thần kinh.
- Gây tê và mất cảm giác ở tay.
- Rung toàn thân ảnh hưởng tới cột sống.
- Là yếu tố hay bị bỏ qua.
Mục thứ tư là dấu hiệu cần chú ý vì nó cho thấy tổn thương đã xảy ra.
Lạnh và các yếu tố môi trường
- Lạnh làm cơ co cứng hơn.
- Giảm tuần hoàn.
- Làm nặng thêm tác hại của rung.
- Găng tay quá dày làm phải bóp chặt hơn.
- Không gian chật buộc tư thế xấu.
Mục thứ tư là chi tiết ít được nghĩ tới nhưng nó làm tăng lực cầm cần thiết.
Các yếu tố về tổ chức công việc
- Nhịp độ do máy quyết định.
- Không được nghỉ chủ động.
- Áp lực về sản lượng.
- Không được đổi việc.
- Làm thêm giờ kéo dài.
- Các yếu tố này quan trọng như yếu tố cơ học.
Mục cuối là điều ít được nói tới vì người ta thường chỉ nhìn vào tư thế và trọng lượng.
Vì sao triệu chứng xuất hiện muộn
- Cơ thể bù trừ trong thời gian dài.
- Các cơ khác gánh thay.
- Người ta điều chỉnh động tác mà không nhận ra.
- Triệu chứng tới khi bù trừ đã cạn.
- Lúc đó tổn thương đã tích luỹ nhiều năm.
Mục thứ ba là cơ chế âm thầm và nó cũng tạo ra các vấn đề mới ở những vùng gánh thay.
Về hiện tượng đau lan sang chỗ khác
- Một vùng đau thì vùng khác gánh thay.
- Vùng gánh thay bị quá tải.
- Rồi cũng đau.
- Vấn đề lan rộng dần.
- Xử lý sớm ngăn được chuỗi này.
Mục cuối là lý do việc bỏ qua cơn đau đầu tiên thường tốn kém hơn nhiều về sau.
Những vùng hay bị nhất
- Thắt lưng.
- Cổ và vai.
- Khuỷu tay và cổ tay.
- Bàn tay và ngón tay.
- Đầu gối.
- Tuỳ đặc thù từng nghề.
Mục cuối là lý do việc phòng ngừa cần được thiết kế riêng cho từng loại công việc.
Vì sao không nên coi là chuyện đương nhiên
- Đau lưng thường được coi là nghề nào cũng vậy.
- Nên không ai nêu ra.
- Không ai điều chỉnh gì.
- Tình trạng nặng dần.
- Phần lớn phòng ngừa được.
Mục cuối là điểm quan trọng vì đây là nhóm bệnh có nhiều biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
Điều đáng nhớ nhất
- Tổn thương đến từ lặp lại chứ không từ một lần.
- Tư thế tĩnh cũng gây hại.
- Thiếu phục hồi là yếu tố quyết định.
- Tổ chức công việc quan trọng như tư thế.
- Đây không phải chuyện đương nhiên của nghề.
Mục thứ ba là điều dễ thay đổi nhất và nó thường cho kết quả rõ nhất.
Câu hỏi thường gặp
Tổn thương cơ xương khớp do công việc hình thành thế nào?
Phần lớn không đến từ một chấn thương đơn lẻ mà từ việc lặp lại một động tác hoặc giữ một tư thế trong thời gian rất dài, khiến các mô bị quá tải mà không có đủ thời gian phục hồi.
Vì sao giữ tư thế tĩnh cũng gây hại?
Vì các cơ phải co liên tục để giữ tư thế, mạch máu bị ép và nuôi dưỡng kém đi. Một tư thế trông như nghỉ ngơi vẫn có thể gây quá tải nếu giữ nhiều giờ liền.
Yếu tố nào quyết định nhất?
Thiếu thời gian phục hồi. Cùng một khối lượng công việc, nếu có xen kẽ các khoảng nghỉ và thay đổi tư thế thì tổn thương ít hơn nhiều so với khi làm liên tục không dừng.
Vì sao tổn thương hay xuất hiện muộn?
Vì cơ thể bù trừ và thích nghi trong thời gian dài. Triệu chứng thường chỉ xuất hiện khi khả năng bù trừ đã cạn, và tới lúc đó thì tổn thương đã tích luỹ nhiều năm.